BỆNH ĐAU MẮT HỘT (phần I)
So sánh sản phẩm

BỆNH ĐAU MẮT HỘT (phần I)


Từ đầu thế kỷ 20 bệnh mắt hột lưu hành một cách trầm trọng ở khắp nước Việt Nam, với nhiều biến chứng chủ yếu là toét mắt và lông quặm. Tỷ lệ bệnh mắt hột  năm 1947-1951 là 85,6%. Sau năm 1954 tỷ lệ mắt hột là 81% (30% có biến chứng, 0,22% mù hai mắt). Năm 1986 tỷ lệ mắt hột hoạt tính là 20% (tỷ lệ mù hai mắt 0,17% trong dân số). Bệnh mắt hột còn mang tính chất xã hội và còn là nguyên nhân gây mù loà.

Định nghĩa

Theo Tổ chức Y tế Thế giới: Bệnh mắt hột là một viêm mạn tính của kết mạc và giác mạc.

Tác nhân gây bệnh là Chlamydia Trachomatis, nhưng có nhiều tác nhân vi sinh vật khác tham gia gây bệnh. Trong giai đoạn lây bệnh, viêm nhiễm, bệnh thể hiện đặc trưng bằng sự có mặt của các hạt đặc biệt (hột), kèm thêm thâm nhiễm toả lan mạnh, phì đại nhú ở kết mạc và sự phát triển các mạch máu trên giác mạc.

Bệnh thường xuất hiện ở lứa tuổi trẻ và kéo dài nếu không được điều trị hoặc bội nhiễm.

Lâm sàng

Bệnh mắt hột gây tổn thương ở kết mạc và giác mạc.

Các tổn thương cơ bản của bệnh mắt hột trên kết mạc

- Thâm nhiễm: Hiện tượng thâm nhập của các tế bào viêm, chủ yếu là các tế bào lympho vào tổ chức bạch nang của kết mạc.Thâm nhiễm làm cho kết mạc dày đỏ, che mờ các mạch máu.

- Hột: hột thường xuất hiện ở kết mạc sụn mi trên, có thể gặp ở kết mạc mi dưới và ở cùng đồ, kích thước không đều, từ 0,5 - 1mm.

Hột tiến triển qua các giai đoạn : hột non - hột phát triển - hột chín dễ vỡ tạo thành sẹo. Không có hột mắt hột ở trẻ sơ sinh trong 3 tháng đầu.

- Sẹo: Sẹo trên kết mạc là các đoạn xơ trắng nhỏ, dải sẹo, hình sao mạng lưới. Sẹo gây co kéo cạn cùng đồ - mi cụp vào.

- Nhú: Khối đa giác có ranh giới rõ, giữa khối nhú có một chùm mao mạch. Nhú xuất hiện trong thời kỳ viêm kéo dài hoặc có sự kích thích liên tục ở kết mạc. Nhú không phải là yếu tố đặc hiệu của bệnh mắt hột.

Các tổn thương cơ bản của bệnh mắt hột trên giác mạc

- Thâm nhiễm: Sự thâm nhập của các tế bào viêm vào lớp nông, cực trên của giác mạc. Giai đoạn sau thâm nhiễm làm giác mạc có màu xám.

- Hột: Thường ở vùng rìa cực trên, từ 2 - 5 hột. Hột trên giác mạc thoái triển, làm sẹo tạo thành lõm hột (lõm Herbert).

Hột trên giác mạc là có giá trị chẩn đoán gần tuyệt đối, chỉ xuất hiện ở những hình thái phồn thịnh của bệnh mắt hột ở giai đoạn toàn phát:

- Tân mạch: Từ hệ mạch máu vùng rìa xâm nhập vào các giác mạc thường xuất hiện ở cực trên, một số trường hợp xâm nhập toàn bộ chu vi giác mạc.

- Màng máu: Là tổn thương đặc hiệu của bệnh mắt hột trên giác mạc, màng máu thường khu trú ở lớp nông, ở phần trên của giác mạc (Hình 2). Màng máu được tạo bởi thâm nhiễm giác mạc, hột (hoặc di chứng hột : lõm hột) và tân mạch.

Màng máu có biểu hiện lâm sàng rất phong phú, có nhiều hình thái. Màng máu bao giờ cũng để lại di chứng. Màng máu có thể gây giảm thị lực.

Các giai đoạn của bệnh mắt hột: 4 giai đoạn

I: Giai đoạn bắt đầu của bệnh

Thường gặp ở trẻ em lứa tuổi 2 - 5 tuổi.

Tổn thương : thường là hột non, hột phát triển.

Giai đoạn I thường kéo dài từ 3 tháng đến 2 năm.

II: Giai đoạn toàn phát 1 - 3 năm

Nhiều hột phát triển, chín, thâm nhiễm làm kết mạc dày đỏ.

Trên giác mạc có thể thấy hột, màng máu.

III: Giai đoạn thoái triển.

Hột còn ít hoặc hết.

Thâm nhiễm toả lan hoặc khu trú. Sẹo nhiều. Giai đoạn này kéo dài nhiều năm, gây biến chứng.

IV: Chỉ còn sẹo trên kết mạc, khỏi bệnh.

Xem tiếp những nội dung: Phân loại, nhận biết, điều trị và cách phòng tránh tại đây:

Chat Facebook