TĂNG NHÃN ÁP - PHẦN 2
So sánh sản phẩm

TĂNG NHÃN ÁP - PHẦN 2


Nguyên nhân

Vì những lý do bác sĩ không hoàn toàn nắm được hết, tăng áp suất bên trong mắt (nhãn áp) thường được kết hợp với các tổn thương thần kinh thị giác đặc trưng cho bệnh tăng nhãn áp. Áp lực này xuất phát từ sự tích tụ của thủy dịch, một chất lỏng tự nhiên và liên tục được sản xuất ở mặt trước của mắt.

Nước bình thường ra khỏi mắt thông qua một đường dẫn ở góc nơi giác mạc mống mắt. Khi hệ thống thoát nước không hoạt động, thủy dịch không thể ra bình thường, và làm tăng áp lực trong mắt.

Bệnh tăng nhãn áp góc mở tiên phát

Trong bệnh tăng nhãn áp góc mở tiên phát, đường dẫn nước mắt được hình thành bởi các giác mạc và mống mắt vẫn mở, nhưng các ống lệ nhỏ ở góc (gọi là meshwork trabecular) bị chặn một phần, làm cho thủy dịch thoát ra khỏi mắt quá chậm. Điều này dẫn đến ứ dịch và áp suất tăng dần bên trong mắt. Tổn thương cho thần kinh thị giác không gây đau và rất chậm, có thể bị mất phần lớn tầm nhìn ngay cả trước khi nhận thức được vấn đề đang xảy ra với mắt. Nguyên nhân chính xác của bệnh tăng nhãn áp góc mở tiên phát vẫn chưa được biết rõ ràng.

Bệnh tăng nhãn áp góc đóng

Bệnh tăng nhãn áp góc đóng, xảy ra khi mống mắt lồi ra phía trước thu hẹp hoặc chặn đường tuyến lệ được hình thành bởi các giác mạc và mống mắt. Kết quả là, dung dịch chất lỏng không còn khả năng thoát ở góc này, vì thế làm tăng áp suất đột ngột mắt. Tăng nhãn áp góc đóng thường xảy ra đột ngột (cấp tính), nhưng nó cũng có thể xảy ra từ từ (mạn tính).

Nhiều người phát triển bệnh tăng nhãn áp góc đóng có tuyến thoát lệ hẹp bất thường ở đoạn đầu. Góc hẹp này không bao giờ gây ra bất kỳ vấn đề, do đó có thể không bị phát hiện sớm trong cuộc sống.

Nếu có góc của tuyến thoát lệ hẹp, giãn nở bất ngờ có thể kích hoạt tăng nhãn áp góc đóng cấp tính. Giãn nở mắt để đáp ứng với bóng tối, ánh sáng mờ, căng thẳng, kích thích và thuốc nhất định. Những thuốc này bao gồm thuốc kháng histamine, chẳng hạn như desloratadine (Clarinex) và cetirizin (Zyrtec); thuốc chống trầm cảm ba vòng, như doxepin và protripxyline (Vivactil) và thuốc nhỏ mắt được sử dụng để làm giãn cho các kiểm tra mắt toàn diện.

Bệnh tăng nhãn áp áp suất thấp

Một dạng khác của bệnh, chưa được hiểu rõ nguyên nhân bệnh nhưng không phổ biến, đó là bệnh tăng nhãn áp áp suất thấp. Trong loại bệnh này, tổn thương thần kinh thị giác xảy ra ngay cả khi nhãn áp mắt vẫn trong giới hạn bình thường. Tại sao điều này xảy ra mà lại không có dấu hiệu rõ ràng. Một số chuyên gia tin rằng những người có bệnh tăng nhãn áp áp suất thấp có thể có dây thần kinh nhạy cảm bất thường hoặc cung cấp máu đến thần kinh thị giác giảm do xơ vữa động mạch (tích tụ mỡ trong động mạch) hay hạn chế lưu thông. Trong những trường hợp này, tổn thương dây thần kinh thị giác có thể xảy ra ngay cả với áp suất bình thường.

Bệnh tăng nhãn áp sắc tố

Bệnh tăng nhãn áp sắc tố, một loại bệnh tăng nhãn áp có thể phát triển ở người trẻ đến tuổi trung niên, được kết hợp với sự phân tán của các hạt sắc tố bên trong mắt. Các hạt sắc tố xuất hiện phát sinh từ phía sau của mống mắt. Khi các hạt sắc tố này tích lũy, có thể cản trở dòng chảy của dịch nước và gây ra sự gia tăng áp lực. Khi thực hiện các hoạt động thể chất, chẳng hạn như chạy bộ, đôi khi khuấy động các hạt sắc tố, làm cho chúng gây ra áp lực liên tục. Đây là loại bệnh tăng nhãn áp có thể dễ dàng chẩn đoán.

Yếu tố nguy cơ

Bởi vì bệnh tăng nhãn áp mãn tính có thể phá hủy tầm nhìn trước khi có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng rõ ràng, phải nhận thức được những yếu tố này:

Cao áp nội mắt (nhãn áp). Nếu nhãn áp cao hơn bình thường, có nguy cơ cao phát triển bệnh tăng nhãn áp, tuy nhiên không phải tất cả mọi người có nhãn áp tăng cao đều phát triển thành bệnh.

Tuổi. Tất cả mọi người trên 60 tuổi có nguy cơ gia tăng bệnh tăng nhãn áp.

Dân tộc. Người Mỹ gốc Phi dễ bị bệnh tăng nhãn áp nhiều hơn năm lần người da trắng, và rất có thể dẫn đến mù vĩnh viễn. Người Mỹ gốc Mexico và người Mỹ gốc châu Á cũng phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh cao.

Tiền sử gia đình mắc bệnh tăng nhãn áp. Nếu có tiền sử gia đình mắc bệnh tăng nhãn áp, thì những thành viên trong gia đình đó có nguy cơ lớn hơn nhiều so với những người trong gia đình không có tiền sử này. Bệnh tăng nhãn áp có thể có một liên kết di truyền, có nghĩa là có một khiếm khuyết trong một hoặc nhiều gen có thể gây ra một số cá nhân có bất thường dễ bị bệnh. Một dạng của bệnh tăng nhãn áp góc mở chưa thành niên đã xác định có liên quan đến bất thường di truyền.

Điều kiện y tế. Bệnh tiểu đường và suy giáp làm tăng nguy cơ phát triển bệnh tăng nhãn áp.

Các điều kiện mắt. Chấn thương mắt nặng có thể dẫn đến tăng nhãn áp. Thương tích cũng có thể gây xước thủy tinh thể, làm đóng các góc thoát nước. Yếu tố nguy cơ khác bao gồm bong võng mạc, u mắt, viêm mắt, chẳng hạn như viêm màng bồ đào mãn tính và viêm mống mắt. Một số loại phẫu thuật mắt cũng có thể gây ra bệnh tăng nhãn áp thứ phát.

Cận thị. Cận thị nặng làm tăng nguy cơ phát triển bệnh tăng nhãn áp.

Sử dụng Corticosteroid kéo dài. Sử dụng corticosteroids trong thời gian kéo dài sẽ có nguy cơ mắc bệnh tăng nhãn áp thứ phát. Điều này đặc biệt đúng nếu sử dụng thuốc nhỏ mắt corticosteroid.

Các biến chứng

Nếu không chữa trị, bệnh tăng nhãn áp sẽ gây giảm thị lực tiến triển, các giai đoạn tăng dần như:

  • Xuất hiện các điểm mù trong tầm nhìn ngoại vi.
  • Đường hầm tầm nhìn: mất trường thị giác, thiếu tầm nhìn ở ngoại vi
  • Mù.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Một số những xét nghiệm giúp chẩn đoán bệnh tăng nhãn áp:

Đo áp lực nội nhãn (Tonometry). Tonometry là một thủ tục đơn giản, biện pháp không gây đau, sau khi gây tê mắt với giọt thuốc. Thường được dùng để sàng lọc ban đầu cho bệnh tăng nhãn áp.

Kiểm tra tổn thương thần kinh thị giác. Để kiểm tra các sợi ở thần kinh thị giác, các bác sĩ mắt sử dụng công cụ tìm kiếm trực tiếp vào mặt sau của mắt. Nếu có những thay đổi nhỏ có thể cho thấy sự khởi đầu của bệnh tăng nhãn áp.

Thử nghiệm thị giác. Để kiểm tra xem trường thị giác đã bị ảnh hưởng bởi bệnh tăng nhãn áp, bác sĩ sử dụng bài kiểm tra đặc biệt để đánh giá tầm nhìn bên (ngoại vi) .

Đo độ dày giác mạc (pachymetry). Độ dày của giác mạc, một yếu tố quan trọng trong chẩn đoán bệnh tăng nhãn áp. Nếu giác mạc dày, áp lực mắt có thể cao hơn bình thường ngay cả khi có thể không có bệnh tăng nhãn áp. Tương tự như vậy, những người có giác mạc mỏng có thể có áp lực bình thường và vẫn có bệnh tăng nhãn áp.

Các xét nghiệm. Để phân biệt giữa bệnh tăng nhãn áp góc mở và bệnh tăng nhãn áp góc đóng, bác sĩ mắt có thể sử dụng kỹ thuật gọi là gonioscopy trong đó một ống kính đặc biệt được đặt trên mắt để kiểm tra góc thoát nước. Thử nghiệm tonography có thể đo chất lỏng chảy từ mắt.

Chat Facebook