TĂNG NHÃN ÁP - PHẦN 3
So sánh sản phẩm

TĂNG NHÃN ÁP - PHẦN 3


Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị bệnh tăng nhãn áp là giảm áp lực nội nhãn bằng cách cải thiện dòng thoát dịch nước, giảm sản xuất dịch nước, hoặc kết hợp cả hai. Bệnh tăng nhãn áp không thể hoàn toàn chữa khỏi, và tổn thương do bệnh không thể hồi phục như cũ, nhưng điều trị và kiểm tra thường xuyên có thể ngăn ngừa mất thị giác ở những người bị tăng nhãn áp sớm. Nếu hiện tượng mất thị giác đã xảy ra, điều trị có thể làm chậm hoặc ngăn chặn việc mất tầm nhìn.

Thuốc nhỏ mắt

Điều trị bệnh tăng nhãn áp thường bắt đầu với thuốc nhỏ mắt. Cần lưu ý rằng phải sử dụng đúng số giọt chính xác theo quy định. Nếu không, có thể gây tổn thương thần kinh thị giác, thậm chí tệ hơn. Nếu bác sĩ quy định nhiều loại thuốc, cần hỏi kĩ thời gian giữa các lần nhỏ mắt. Bởi vì một số thuốc nhỏ mắt được hấp thu vào máu có thể gặp tác dụng không mong muốn không liên quan đến mắt. Để giảm thiểu sự hấp thụ này, nhắm mắt 1 - 2 phút sau khi nhỏ mắt, và lau phần thuốc bị chảy ra ngoài.

Các loại thuốc nhỏ mắt thường sử dụng theo phác đồ bao gồm:

  • Các hợp chất giống như Prostaglandin. Những thuốc nhỏ mắt tăng dòng chảy của thủy dịch. Ví dụ như latanoprost (Xalatan) và bimatoprost (Lumigan). Tác dụng không mong muốn có thể bao gồm đỏ nhẹ và cay mắt, thay đổi sắc tố của da mí mắt và mờ mắt cùng với sưng võng mạc.
  • Beta blockers. Giảm sản xuất thủy dịch. Ví dụ như timolol (Betimol, Timopxic), betaxolol (Betopxic) và metipranolol (Opxipranolol). Tác dụng không mong muốn có thể bao gồm khó thở, nhịp tim chậm lại, rụng tóc, huyết áp thấp hơn, bất lực, mệt mỏi, suy nhược, trầm cảm và mất trí nhớ. Nếu có bệnh hen suyễn, viêm phế quản hoặc khí phế thũng, thuốc khác với thuốc chẹn beta có thể được khuyến khích bởi vì thuốc chẹn beta có thể gây khó thở. Nếu đang sử dụng insulin cho bệnh nhân tiểu đường thì nên tránh sử dụng cùng thuốc chẹn beta.
  • Alpha-agonist. Giảm sản xuất thủy dịch, thoát nước tăng lên. Ví dụ như apraclonidine (Iopidine) và brimonidine (Alphagan). Tác dụng không mong muốn có thể bao gồm mệt mỏi, chóng mặt, đỏ, ngứa hoặc sưng mắt, khô miệng và các phản ứng dị ứng.
  • Chất ức chế carbonic anhydrase. Những điều này cũng làm giảm việc sản xuất thủy dịch. Ví dụ như dorzolamide (Trusopx) và brinzolamide (Azopx). Có tác dụng không mong muốn có thể thường xuyên đi tiểu và cảm giác ngứa ran ở ngón tay và ngón chân, xảy ra thường xuyên hơn với các chất ức chế carbonic anhydrase dạng uống hơn so với thuốc nhỏ mắt ức chế anhydrase. Nếu bị dị ứng hoặc nhạy cảm với thuốc sulfa, không sử dụng các loại thuốc này nếu không có thay thế.
  • Miotic hoặc cholinergic. Cũng làm tăng dòng chảy của thủy dịch. Ví dụ như pilocarpine (Isopxo Carpine) và carbachol (Isopxo Carbachol). Tác dụng không mong muốn có thể là đau quanh hoặc bên trong mắt, đau trán, mờ hoặc nhìn mờ, cận thị, phản ứng dị ứng, nghẹt mũi, ra mồ hôi, nước bọt gia tăng, và các vấn đề tiêu hóa thường xuyên.
  • Hợp chất Epinephrine. Các hợp chất này, chẳng hạn như dipivefrin (Propine), cũng làm tăng dòng chảy của thủy dịch. Tác dụng không mong muốn có thể bao gồm mắt đỏ, phản ứng dị ứng, đánh trống ngực, tăng huyết áp, đau đầu và lo lắng.

Thuốc uống

Nếu thuốc nhỏ mắt đơn độc không giảm áp lực mắt xuống đến mức mong muốn, bác sĩ cũng có thể kê toa loại thuốc uống, thường là chất ức chế carbonic anhydrase. Thuốc thường được uống trong bữa ăn để giảm tác dụng không mong muốn.

Ban đầu, các chất ức chế carbonic anhydrase có thể gây đi tiểu thường xuyên và cảm giác ngứa ran ở ngón tay và ngón chân. Sau vài ngày, những triệu chứng này thường biến mất. Các tác dụng không mong muốn bao gồm phát ban, trầm cảm, mệt mỏi, sỏi thận, hôn mê, đau bụng, vị kim loại trong đồ uống có ga, bất lực và sụt cân.

Các loại thuốc bảo vệ thần kinh thị giác

Hạ nhãn áp chỉ cung cấp một giải pháp một phần khi nói đến lưu giữ tầm nhìn ở những người bị tăng nhãn áp. Đang thực hiện thử nghiệm lâm sàng một số loại thuốc được đánh giá có thể giúp bảo vệ thần kinh thị giác từ tổn thương liên quan tới bệnh tăng nhãn áp.

Phẫu thuật

Có thể cần phải phẫu thuật để điều trị bệnh tăng nhãn áp nếu không thể điều trị bằng thuốc hoặc bằng thuốc không hiệu quả. Đôi khi, kỹ thuật phẫu thuật đơn giản có thể không giảm đủ thấp áp suất mắt, trong trường hợp này sẽ cần phải tiếp tục sử dụng thuốc nhỏ mắt hoặc thuốc uống khác. Biến chứng có thể xảy ra sau phẫu thuật bệnh tăng nhãn áp có thể bao gồm nhiễm trùng, chảy máu, nhãn áp cao hay thấp bất thường, và có thể mất thị giác. Phẫu thuật mắt cũng có thể tăng tốc độ phát triển của đục thủy tinh thể. Tuy nhiên hầu hết các biến chứng đều có thể điều trị hiệu quả.

Phẫu thuật được sử dụng để điều trị bệnh tăng nhãn áp bao gồm:

Phẫu thuật Laser. Trong hai thập niên qua, kỹ thuật gọi là trabeculoplasty đã có một vai trò đáng kể trong điều trị bệnh tăng nhãn áp góc mở. Sau khi cho gây tê, bác sĩ sử dụng một chùm tia laser năng lượng cao để mở ống lệ bị tắc và giúp thoát thủy dịch dễ dàng từ mắt.

Đây là một thủ thuật kéo dài 10 đến 20 phút, và  thường có thể tiếp tục hoạt động bình thường mà không khó chịu. Các bác sĩ sẽ cần phải kiểm tra nhãn áp nhiều lần trong những tuần sau. Sau khoảng một vài tuần để thấy hiệu lực rõ ràng của phẫu thuật.

Trong hầu hết các trường hợp, phẫu thuật laser cho bệnh tăng nhãn áp ban đầu làm giảm áp lực nội nhãn. Tuy nhiên, sau một thời gian áp lực nội nhãn có thể bắt đầu tăng lên.

Phẫu thuật chọn lọc. Nếu thuốc nhỏ mắt và phẫu thuật laser không hiệu quả trong việc kiểm soát áp lực mắt, có thể cần một quy trình lọc, thường là dưới hình thức một trabeculectomy.

Thủ tục này có thể thực hiện tại bệnh viện hoặc phẫu thuật ngoại trú. Đầu tiên bạn sẽ được  sử dụng thuốc nhỏ mắt với tác dụng gây mê/gây tê cho mắt. Phẫu thuật được thực hiện bởi dụng cụ tinh tế dưới kính hiển vi, bác sĩ phẫu thuật tạo ra một lỗ trên màng - trắng của mắt và loại bỏ một mảnh nhỏ các meshwork trabecular. Các thủy dịch có thể được tự do rời khỏi mắt thông qua đường mở này. Kết quả là, áp lực mắt sẽ hạ xuống. Phẫu thuật này sẽ hiệu quả tốt nhất nếu không có bất kỳ phẫu thuật mắt trước đó. Bác sĩ sẽ kiểm tra mắt trong quá trình theo dõi trong thời gian nhất định và cần phải sử dụng thuốc nhỏ mắt kháng sinh, kháng viêm để chống nhiễm trùng và sẹo ở ống lệ mới được tạo ra.

Một phẫu thuật thực hiện trong mắt loại bỏ một dải mục tiêu của lưới sợi mô liên kếtvới công cụ electrocauterizing nhỏ. Công cụ này được đưa vào kênh thoát nước của mắt thông qua một vết mổ 1,6 mm ở rìa giác mạc. Một phần được xác định trước của lưới sợi mô liên kếtcó thể được lấy ra từ bên trong của mắt với dụng cụ này. Nghiên cứu cho thấy thủ tục này có thể hiệu quả. Nó tiếp tục được nghiên cứu.

Cấy ghép ống thoát nước. Một loại hình hoạt động, được gọi là phẫu thuật cấy ghép thoát nước, có thể là một lựa chọn cho những người bị tăng nhãn áp thứ phát hoặc cho bệnh tăng nhãn áp trẻ em. Phẫu thuật cấy ghép thoát nước diễn ra trong một bệnh viện hoặc phòng khám ngoại trú. Các bác sĩ phẫu thuật mắt chèn một ống silicone nhỏ trong mắt để giúp thoát dịch nước. Sau khi phẫu thuật, mang một miếng gạc che mắt trong 24 giờ và sử dụng thuốc nhỏ mắt trong vài tuần để ngăn ngừa nhiễm trùng và sẹo.

Điều trị cấp tính bệnh tăng nhãn áp góc đóng

Bệnh tăng nhãn áp góc đóng cấp tính là một cấp cứu y tế. Với tình trạng này, bác sĩ có thể cho dùng một số thuốc để giảm áp lực mắt càng nhanh càng tốt. Cũng có thể mở mống mắt, một thủ tục laser tạo ra một lỗ nhỏ ở mống mắt để dịch nước có thể truyền vào meshwork trabecular. Nhiều bác sĩ đề nghị mở mống mắt với mắt còn lại vào ngày sau vì nguy cơ cao, góc thoát đã mở gần như hoạt động tốt.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Nếu có nhãn áp cao hoặc bệnh tăng nhãn áp, cần có lối sống và sinh hoạt lành mạnh:

Uống dịch nước thường xuyên. Chỉ uống một lượng vừa phải nước tại bất kỳ thời điểm nào trong ngày. Uống nhiều hơn 1 lít trong thời gian ngắn có thể làm tăng nhãn áp.

Tập thể dục an toàn đúng cách. Thường xuyên tập thể dục có thể làm giảm áp lực mắt trong bệnh tăng nhãn áp góc mở. Tuy nhiên, mắt có thể tăng áp lực sau khi tập thể dục dưới dạng bệnh tăng nhãn áp thứ phát - bệnh tăng nhãn áp sắc tố, một rối loạn di truyền được đánh dấu bởi sự phân tán của các hạt sắc tố trong mắt. Khi tập thể dục mạnh, các hạt sắc tố có thể khuấy lên và đi vào lưới sợi mô liên kết gây tăng áp lực. Với bệnh tăng nhãn áp sắc tố, nếu muốn tập yoga bạn nên đặc biệt tránh vị trí yoga đầu xuống và kéo dài, vì các vị trí này có thể làm tăng nhãn áp.

Nếu không có bệnh tăng nhãn áp sắc tố, không cần phải hạn chế các hoạt động thể chất.

Thuốc thay thế

Không nên lạm dụng các loại thảo dược để chữa bệnh tăng nhãn áp. Ví dụ như cây nham lê được nhiều người quảng cáo sử dụng để điều trị tăng nhãn áp tuy nhiên tác dụng này chưa hoàn toàn được chứng minh. Bên cạnh đó cần phải theo dõi tác dụng của thực phẩm chức năng, bởi chúng chỉ là thực phẩm bổ sung không phải thuốc điều trị.

Stress có thể kích hoạt một cơn bệnh tăng nhãn áp góc đóng cấp tính. Nếu có nguy cơ của tình trạng này, hãy tìm một phương pháp lành mạnh để đối phó với căng thẳng.

Phòng chống

  • Chăm sóc mắt thường xuyên: Thường xuyên khám mắt toàn diện có thể giúp phát hiện bệnh tăng nhãn áp trong giai đoạn đầu trước khi xảy ra những tổn thương không thể đảo ngược. Theo nguyên tắc chung, cần khám mắt toàn diện mỗi 3 - 5 năm sau tuổi 40 và mỗi năm sau tuổi 60. Có thể cần kiểm tra thường xuyên hơn nếu đã có yếu tố nguy cơ bệnh tăng nhãn áp. Hãy đến gặp bác sĩ kiểm tra mắt theo lịch trình phù hợp.
  • Điều trị tăng nhãn áp: Thuốc nhỏ mắt có thể làm giảm đáng kể nguy cơ áp lực mắt cao sẽ tiến triển thành bệnh tăng nhãn áp.
  • Kiểm soát cân nặng và huyết áp: Nghiên cứu cho thấy kháng insulin - có thể tăng huyết áp và béo phì liên kết với nhãn áp tăng cao.
  • Mang bảo vệ mắt: Chấn thương mắt nghiêm trọng có thể dẫn đến bệnh tăng nhãn áp. Vì vậy cần mang bảo vệ mắt khi sử dụng các công cụ điện hoặc chơi thể thao tốc độ cao.

 

Chat Facebook